THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY

3 lượt xem du lịch

Du lịch được coi là ngành “công nghiệp không khói”, là “con gà đẻ trứng vàng” của nền kinh tế. Ngành du lịch luôn chiếm vị trí rất quan trọng ở bất cứ quốc gia nào. Đặc biệt với một nước giàu tiềm năng du lịch như nước ta, ngành du lịch luôn được Nhà nước quan tâm và chỉ đạo đến năm 2020 sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Trong những năm vừa qua chúng ta có thể thấy sự tăng truởng đáng ghi nhận của ngành du lịch như sau:

Từ năm 2016 đến nay, du lịch liên tục đạt mức tăng trưởng từ 25 – 30% – mức tăng trưởng mơ ước đối với điểm đến quy mô quốc gia. Trong đó có gần 13 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong 10 tháng qua, tương đương với số lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong cả năm 2017, (theo Tổng cục thống kê).

Cùng với tốc độ phát triển của lượng khách du lịch thì hiện nay hệ thống khách sạn ở Việt Nam cũng ngày càng lớn mạnh.

Tuy vậy, việc thiếu nhân lực du lịch, sẽ là “lực cản” đối với ngành kinh tế xanh trong tương lai gần. Cụ thể: Hiện tại, cả nước mới có trên 1,3 triệu lao động du lịch, chiếm khoảng 2,5% tổng lao động cả nước; trong đó chỉ có 42% được đào tạo về du lịch, 38% được đào tạo từ các ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy mà chỉ được huấn luyện tại chỗ.

Đặc biệt thực trạng sinh viên ngành khách sạn du lịch hiện nay đang là một vấn đề rất cấp bách và quan trọng: Vừa thiếu về số lượng vừa yếu về chất lượng

– Về số lượng: Cả nước hiện có 346 cơ sở đào tạo du lịch từ sơ cấp đến sau ĐH (gồm 115 cơ sở đào tạo trình độ ĐH-CĐ; 144 cơ sở đào tạo trình độ TC và 87 cơ sở đào tạo nghề), Hàng năm các cơ sở đào tạo du lịch cho tốt nghiệp ra trường được khoảng 24.000 sinh viên học viên trong khi mỗi năm toàn ngành cần thêm: 40.000 lao động. Như vậy thực tế, mỗi năm, các trường đào tạo chuyên ngành về du lịch chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu của ngành, dẫn đến tình trạng thiếu trầm trọng nguồn nhân lực du lịch. .Dự báo thời gian tới tốc độ tăng trưởng của ngành đạt từ 25 – 35%/năm và theo kế hoạch đến năm 2020, ngành kinh tế xanh cần khoảng trên 2 triệu lao động chất lượng cao, chưa kể hàng nghìn lao động lĩnh vực du lịch tàu biển. Cùng với đó, nhiều thương hiệu quốc tế hàng đầu về bất động sản du lịch như Accor, JW Marriott, Hyatt, InterContinental, Four Seasons… đã và đang rốt ráo tăng thêm thị phần tại Việt Nam, nên nguồn lao động chất lượng cao được “săn đón” quyết liệt; đầu ra từ các trường đào tạo chuyên ngành du lịch gần như không đủ cung cấp cho thị trường thời điểm này và cả những năm tới.

– Về chất lượng: Hầu hết các doanh nghiệp và tập đoàn Du lịch Nhà hàng Khách sạn không thể sử dụng nguồn lực sinh viên mới ra trường vì thiếu kĩ năng, kinh nghiệm, chuyên môn và cả ngoại ngữ. Các doanh nghiệp phải đào tạo lại, tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc. Nhưng khi các bạn làm được một thời gian thấy công việc vất vả, khó khăn thì lại chuyển nghề. (Theo TGĐ Công ty Du lịch Việt) Ông Trần Văn Long):

+ Chuyên môn, nghiệp vụ yếu:

Thực trạng đào tạo hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu khi 85% thời gian trong các năm học, sinh viên đào tạo lý thuyết, 15% là thực hành trong khi tại các nước tỷ lệ này ngược lại sinh viên chỉ dành 15% thời gian học lý thuyết, còn 85% thực hành. Ở một số các trường khác trên thế giới, thời lượng giữa học lý thuyết và thực hành là 50 – 50 , tương đương với 24 tháng thực tập trong môi trường thực tiễn (đào tạo đại học). Trong khi ở Việt Nam chỉ có 2 kỳ thực tập trong vòng 4 tháng nên học viên thiếu hẳn kỹ năng tác nghiệp. Đó là chưa kể nhiều trường đào tạo không có tên tuổi, không thể liên kết với những khách sạn có sao, có hạng nên chỉ gửi sinh viên đến thực tập tại những nơi không đạt chuẩn. Vì thế, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch không nhất quán, không đạt chuẩn. Có thể nói gần như 90% sinh viên ngành khách sạn ra trường đều không có kỹ năng chuyên nghiệp.

  • Theo khảo sát của Hiệp hội du lịch tiến hành vào năm 2017 trên các du thuyền quốc tế, thì nhân lực du lịch việt nam chủ yếu ở các vị trí như vệ sinh, quét dọn, buồng, còn lại các vị trí như lễ tân, quản lý thì lại nhường cho các nước Singapore, Thái Lan, Trung Quốc,…

+ Ngoại ngữ và công nghệ thông tin kém: Theo báo cáo về thực trạng chất lượng nguồn nhân lực du lịch của Tổng cục Du lịch, hơn một nửa sinh viên du lịch ra trường không biết ngoại ngữ, ngoại ngữ tiếng Anh hiện chiếm khoảng 42% nhân lực toàn ngành, tiếng Trung, tiếng Pháp và các tiếng khác với tỷ lệ tương ứng là 5%, 4% và 9%. Trong đó, số lao động có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ chỉ 15%, và cũng chỉ tập trung chủ yếu ở bộ phận làm hướng dẫn viên du lịch, lễ tân khách sạn. Về trình độ công nghệ thông tin, có khoảng hơn 60% lao động biết sử dụng máy tính, nhưng phần lớn chỉ đáp ứng những công việc đơn giản. Đây là một rào cản rất lớn đối với ngành du lịch đặc biệt trong  thời kì hội nhập và phát triển như hiện nay

+ Thiếu kỹ năng nghề: trong ba yếu tố để làm nên một sinh viên hoàn hảo, là kiến thức chuyên môn – kỹ năng – đạo đức, tác phong thì yếu tố thứ ba là quan trọng nhất. Bởi hai phần kia chỉ cần đào tạo có thể đạt được nhưng những thói quen về đạo đức, tác phong làm việc chuyên nghiệp rất khó sửa chữa, mà đây lại là yếu tố quyết định. Các kỹ năng của nghề cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình trước đám đông, kỹ năng làm chủ cảm xúc, quan sát, quản lý sắp xếp thời gian,… còn thiếu và yếu.

Trên cơ sở phân tích thực trạng sinh viên du lịch hiện nay, một trong những giải pháp được quan tâm hang đầu là tăng cường sự liên kết giữa Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp:

Nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, chất lượng cao luôn là mục tiêu mà bất cứ địa phương nào cũng hướng đến. Để làm được điều đó cần sự vào cuộc của ba “nhà”: Nhà nước (định hướng phát triển nguồn nhân lực, quản lý nhà nước trước hết cấp tỉnh và ngành Du lịch); nhà trường (cơ sở đào tạo) và nhà doanh nghiệp (hoạt động trong lĩnh vực du lịch).

Sự liên kết giữa 3 nhà được thể hiện thông qua các mối quan hệ chặt chẽ như sau:

– Quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp được thực hiện qua các thỏa thuận hợp tác toàn diện. Qua đó, doanh nghiệp cung cấp nhu cầu và yêu cầu tuyển dụng, tham gia vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo, phụ trách đào tạo năng lực thực hành nghề nâng cao cho người học. Nhà trường tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp, và tổ chức đào tạo kiến thức, kĩ năng thực hành nghề cơ bản, và rèn đạo đức nghề nghiệp, luyện kỉ luật lao động và tác phong công nghiệp cho người học.

– Quan hệ giữa nhà trường với cơ quan quản lý nhà nước về người lao động được thực hiện thông qua các cơ chế chính sách phù hợp với pháp luật. Nhà trường tiếp nhận thông tin đào tạo và đào tạo bổ sung thông qua tổ chức này, đồng thời, cung cấp nguồn nhân lực đã qua đào tạo đến doanh nghiệp.

– Quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về người lao động với doanh nghiệp cũng được thực hiện thông qua các cơ chế chính sách phù hợp với pháp luật. Doanh nghiệp cung cấp nhu cầu và yêu cầu tuyển dụng đến cơ quan quản lý Nhà nước, đồng thời, được phép tuyển dụng thông qua tổ chức này. Cơ quan quản lý Nhà nước xây dựng cơ chế nhằm ràng buộc doanh nghiệp trả phí khi tuyển dụng lao động mà không tham gia đào tạo.

KINH NGHIỆM TỪ MÔ HÌNH LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐỊA PHƯƠNG TẠI NHẬT BẢN

Theo quan điểm của người Nhật về đào tạo, nhà trường có vai trò giáo dục tốt cho người học về đạo đức, kỉ luật lao động, tác phong công nghiệp, và đào tạo năng lực nghề nghiệp ở mức độ cơ bản. Còn doanh nghiệp có trách nhiệm đào tạo bổ sung cho người học về năng lực làm việc chuyên sâu, phù hợp với nhu cầu đặc điểm sản xuất của chính doanh nghiệp đó.

Theo mô hình www.hidajapan.or.jp, việc đào tạo tạo nguồn nhân lực có sự tham gia của ba bên, bao gồm:nhà trường (phía cung cấp nhân lực), doanh nghiệp (phía có nhu cầu nhân lực), cơ quan chức năng làm cầu nối (quản lý  ngân hàng nhân lực và giáo dục bổ sung), trong đó:

– Cơ sở đào tạo đăng kí thông tin nguồn lực với cơ quan chức năng cầu nối để được cung cấp thông tin về nhu cầu nguồn nhân lực và nhu cầu hợp tác của các doanh nghiệp.

– Doanh nghiệp đăng kí nhu cầu và điều kiện tuyển dụng người lao động cho cơ quan chức năng cầu nối để được giới thiệu nguồn nhân lực phù hợp.

– Cơ quan chức năng cầu nối bao gồm cơ quan quản lí dữ liệu ngân hàng nhân lực và cơ quan giáo dục bổ sung. Cơ quan này có nhiệm vụ tiếp nhận nhu cầu nguồn nhân lực từ doanh nghiệp để cung cấp đến các cơ sở đào tạo, đồng thời, giới thiệu nguồn nhân lực đã qua đào tạo và đào tạo bổ sung đến các doanh nghiệp.

Như vậy, việc thông qua mối liên kết này, công tác đào tạo của nhà trường luôn đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Đồng thời, doanh nghiệp luôn tiếp nhận người lao động phù hợp với nhu cầu và đặc điểm kinh doanh. Có như vậy, nhân lực trong ngành Du lịch mới đảm bảo “Đủ cả về chất và lượng”.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Nguyễn Đình Luận, (2013) “Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị” Tạp chí phát triển và hội nhập.
  • Lưu Đức Kế, (2016) “Thực trạng và các giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam”
  • Trần Anh Tài, (2010) “Gắn đào tạo với sử dụng, nhà trường với doanh nghiệp”, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Một số trang Web
  • vietnamtourism.gov.vn.
  • ncseif.gov.vn.
  • tapchicongsan.org.vn.
  • ilo.org
  • itdr.org.vn
  • en.tnu.edu.vn

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

-