• Trang chủ
  • Digital
  • du lịch
  • Giải pháp đào tạo nhân lực trong các trường ĐH, CĐ đáp ứng yêu cầu hội nhập hiện nay

Giải pháp đào tạo nhân lực trong các trường ĐH, CĐ đáp ứng yêu cầu hội nhập hiện nay

3 lượt xem Digital, du lịch
0 2398

GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO NHÂN LỰC DU LỊCH TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP HIỆN NAY

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây , các nước thành viên ASEAN trong đó có Việt Nam đã ký tuyên bố thành lập Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột chính trị – an ninh, kinh tế và văn hóa – xã hội. Hội nhập trong Cộng đồng ASEAN trên cả ba trụ cột đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao (có kiến thức đầy đủ, có kỹ năng thành thạo và có đạo đức thái độ nghề nghiệp mang đậm bản sắc dân tộc và phù hợp chuẩn mực chung) mới có thể trụ vững và phát triển. Lĩnh vực hoạt động du lịch được các quốc gia thành viên ASEAN xem là lĩnh vực ưu tiên trong hội nhập và xây dựng, thể hiện cụ thể trong Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN và chiến lược phát triển du lịch ASEAN. Hội nhập đồng nghĩa với việc du lịch Việt Nam và các dịch vụ của nó phải đứng trong một quỹ đạo tiêu chuẩn quốc tế và có sự tranh đua cũng như nhu cầu ngày càng tăng về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực du lịch chất lượng cao được thừa nhận rộng rãi trong khu vực.

2. Thực trạng về đào tạo nhân lực du lịch ở các trường Việt Nam hiện nay

Theo thống kê của ngành thì cả nước có hơn 156 cơ sở tham gia đào tạo chuyên ngành du lịch ở trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp và đào tạo ngắn hạn, gồm: 48 trường đại học, 43 trường cao đẳng.

Cơ bản hiện nay các trường đang rất nỗ lực nhằm bắt kịp yêu cầu của xã hội và hội nhập, với các yếu tố như chất lượng tuyển sinh đầu vào, khung và trình độ đào tạo theo quy định, chương trình đào tạo, học liệu, phương pháp giảng dạy,… có tác động không nhỏ đến quá trình đào tạo của các trường. Với các hoạt động của quá trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch về số lượng và chất lượng qua từng giai đoạn, những vấn đề cũng đang tồn tại ở các trường như:

2.1 Việc xác định đối tượng và nhu cầu đào tạo, người học chọn ngành học du lịch thông thường từ nguồn tuyển sinh thông qua các kỳ thi tuyển sinh quốc gia, nên chắc chắn còn thiếu tính hướng nghiệp, cách nhìn nhận về ngành nghề còn khá đơn giản (các tiêu chí tuyển chọn sơ loại chưa được chú trọng cụ thể).

2.2 Thực tế cho thấy ngành có sinh viên nữ chiếm tỷ lệ rất cao (hơn 85%) trong tổng số người học. Sau khi tốt nghiệp đã có khá nhiều người không làm đúng nghề vì sức khỏe, nhu cầu, đặc điểm công việc, gia đình,… điều này cho thấy có sự lãng phí trong công tác đào tạo, đồng thời cũng tạo ra môi trường đào tạo thiếu tích cực trước nhu cầu xã hội khi cung cấp lao động cho ngành.

2.3  Vấn đề về Cơ sở vật chất, kỹ thuật trong đào tạo, hầu hết các trường đều rất hạn chế, đặc biệt là cơ sở thực hành, đối với ngành du lịch việc có cơ sở thực nghiệp là rất quan trọng, hầu hết các trường chưa kết nối thật sự với các doanh nghiệp để cho sinh viên tới thực hành.

2.4  Khung chương trình đào tạo: Còn mang nặng tính  nghiên cứu hàn lâm, mất cân đối giữa lý thuyết và thực hành. đào tạo nặng lý thuyết mà thiếu thực hành nên khả năng tiếp cận thực tế và thích nghi với môi trường làm việc kém, giao tiếp cơ bản trong công việc chưa đạt yêu cầu đặc biệt là sử dụng ngoại ngữ.

2.5  Về Giáo trình phục vụ giảng dạy và học tập cho ngành du lịch còn thiếu trầm trọng và chưa cập nhật thường xuyên. Những bản dịch từ tài liệu, giáo trình của một số trường ở các nước trên thế giới khi áp dụng vào giảng dạy lại không thể sử dụng triệt để vì có nhiều lĩnh vực chưa phù hợp với điều kiện phát triển và đặc điểm của Việt Nam.

2.6  Liên kết doanh nghiệp sử dụng lao động, hầu hết các trường chưa có những chiến lược hiệu quả trong công tác liên kết hợp tác trách nhiệm với doanh nghiệp dẫn đến tình trạng “trường đào tạo một đằng trong khi doanh nghiệp sử dụng cần một nẻo”. Bên cạnh đó, phía doanh nghiệp cũng chưa thực sự gắn kết tạo điều kiện cho cơ sở đào tạo.

2.7 Công tác kiểm tra đánh giá và công nhận bằng cấp, là công việc cốt lõi trọng tâm, nhưng lại chưa phản ánh chính xác năng lực của người học, có tính chủ quan, chạy theo thành tích, theo trào lưu bằng cấp của xã hội. Do đó có nhiều trường hợp người học được đánh giá tốt nghiệp loại khá, giỏi nhưng lại không có khả năng tác nghiệp doanh nghiệp, gây dư luận không tốt và giảm sức thuyết phục đối của người học và doanh nghiệp sử dụng lao động với cơ sở đào tạo.

Quyết định của Thủ tướng về chiến lược phát triển du lịch Việt Na

3. Những giải pháp cần thực hiện trong đào tạo nhân lực du lịch chất lượng cao tại các trường Cao đẳng, Đại học

Thứ nhất: Cần quán triệt và nhận thức sâu sắc trong hệ thống giáo dục đào tạo về mục tiêu đào tạo theo phương châm “Thực học, thực nghiệp”, gắn liền với quá trình đào tạo nhằm hình thành những giá trị, bản sắc Việt Nam; tinh thần “hòa nhập nhưng không hòa tan” được lồng ghép trong nguồn nhân lực du lịch với kỳ vọng đạo đức, trách nhiệm và thích nghi với sự thay đổi.

Thứ hai: Phải hoàn thiện chương trình ngành du lịch theo hướng ứng dụng thực tế, quốc tế hóa theo định hướng chuẩn quốc gia và khu vực: trên cơ sở chương trình đào tạo theo hướng ứng dụng đang có kết hợp với thành quả của các giai đoạn trong dự án và đặc biệt theo dõi sự ra đời của khung trình độ quốc gia về đào tạo du lịch cũng như tham khảo với hệ thống đào tạo khác để cho ra đời chương trình đào tạo ngành du lịch hoàn thiện nhất.

Thứ ba: Đẩy mạnh cơ sở vật chất cho hoạt động thực hành theo tiêu chí “Thực tế nghề nghiệp”. Cần tập trung duy trì và bổ sung các tiện ích cho các phòng thực hành ngành Khách sạn, Du lịch hiện có. Trong thiết kế công trình cần chú ý đến việc xây dựng hệ thống phòng thực hành tiêu chuẩn quốc tế cho ngành khách sạn với phòng ngủ, nhà hàng, dịch vụ bổ sung, khu vực lễ tân,… cho ngành lữ hành với mô hình văn phòng giao dịch, phần mềm giữ chỗ hàng không, phần mềm giữ chỗ khách sạn trong hệ thống phân phối toàn cầu,… Nghiên cứu và triển khai hệ thống khách sạn, nhà hàng và công ty dịch vụ du lịch theo mô hình thực nghiệm công ty trong trường đại học.

Thứ tư: Tăng cường hiệu quả của hoạt động nghiên cứu khoa học du lịch và hợp tác quốc tế. Cần đầu tư mạnh về điều kiện vật chất và điều kiện ứng dụng cho các công trình nghiên cứu của giảng viên và sinh viên. Có chính sách khuyến khích và hỗ trợ các công trình đặt hàng ứng dụng từ các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp về du lịch để gia tăng vị thế đào tạo. Lựa chọn đối tác là các trường đào tạo du lịch, các doanh nghiệp du lịch có thương hiệu trên thế giới để thực hiện việc chuyển giao tri thức, kinh nghiệm cũng như trao đổi giảng viên, sinh viên trong các đợt thực hành, thực tập và giao lưu nhằm học hỏi và bổ sung cho đội ngũ giảng dạy và tạo ra môi trường thực tập quốc tế cho sinh viên.

Thứ năm:  Phải chuẩn hóa trình độ và khả năng ngoại ngữ của giảng viên và sinh viên ngành du lịch. Giảng viên, phải có chuẩn trình độ ngoại ngữ cử nhân hoặc có quá trình học đại học bằng ngoại ngữ; đạt kiểm tra kỹ năng thuyết trình và viết bằng ngoại ngữ hàng năm. Trình độ ngoại ngữ của sinh viên khi ra trường có trình độ tối thiểu là B1 (theo quy đổi khung năng lực ngoại ngữ châu Âu) để đủ điều kiện tham dự học chuyên môn bằng ngoại ngữ (các môn theo quy định của Bộ GD&ĐT và các học phần theo quy định của trường, do trường quyết định).

Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham khảo khoa học - Lịch nội bộ ...

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (2011), Chiến lược phát triển nhân lực văn hóa, thể thao và du lịch 2011 – 2020,
  2. Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (2011), Quy hoạch phát triển nhân lực ngành du lịch giai đoạn 2011 – 2020.
  3. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

-